Bài giảng của Giáo sư Tom Maxwell (Đại học The University of New England, Australia)

Bài giảng của Giáo sư Tom Maxwell (Đại học  The University of New England, Australia)

      Biên tập: Nguyễn Bình Tài (Quảng Bình)

      Biên dịch : Nguyễn Liên Hương (Hà Nội)                               .

 Tại Bhutan có rất nhiều người hứng thú với nghiên cứu thực tiễn. Đó ko phải là điều đáng ngạc nhiên khi phương pháp này là một quá trình linh hoạt, có thể sửa chữa trong khi sử dụng với những câu hỏi và tình huống cực kỳ đa dạng. Phương pháp này ko dựa dẫm quá nhiều vào nguồn tài liệu mà dựa vào nguồn dữ liệu và khả năng của những người tham gia. Nghiên cứu thực tiễn được quy cho cha đẻ Kurt Lewin (1946) và cũng chính ông là người đã khiến phương pháp này trở nên phổ biến sau khi trốn khỏi Đức và làm việc với các nhóm người chịu thua thiệt ở Mỹ.

Nhưng cụm từ nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn lại là một cụm từ gây nhiều tranh cãi. Nó mang những nghĩa khác nhau với những người khác nhau. Ví dụ, một số đánh giá được xem là nghiên cứu từ thực tiễn và báo cáo về phản hồi từ các hành động đã được viết nên giống như nghiên cứu thực tiễn. Trong bài báo này, một dạng nghiên cứu từ thực tiễn khắt khe hơn được thảo luận, trong đó sự thu thập dữ liệu có hệ thống nhằm vào việc đưa ra câu trả lời cho một câu hỏi nghiên cứu về mục tiêu nâng cao/cải thiện/giải quyết là những ý tưởng chính. Bài viết này tiếp tục bằng việc đặt ra các câu hỏi cái gì, tại sao, khi nào, người nào, ở đâu và làm sao với sự tập trung được đặt vào câu cuối cùng. Bằng quá trính này, những vấn đề chính về nghiên cứu từ thực tiễn sẽ được nhận định. Bài viết đưa ra kết luận sau khi đã so sánh thực tại sử dụng phương pháp này đã được biết tại Bhutan (1998-2003) và một ví dụ từ Bhutan. Tôi cũng cùng lúc giới thiệu nghiên cứu từ thực tiễn như là một môn học bắt buộc đối với chương trình đã được đặt trước cho chương trình Bậc đại học ngành Giáo Dục tại trường đại học New England, Úc (Xem Maxwell, Reid, Mcloughlin, Clake và Nicholls, 2001)

Cái gì là nghiên cứu từ thực tiễn?

Trong khi có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “nghiên cứu” trong các ngành khoa học xã hội (và những ngành khác nữa), nghiên cứu thật sự là một quá trình cần thiết của việc đặt các câu hỏi và thu thập xử lý dữ liệu với chủ đích là tìm ra các câu trả lời. Nó ko phải lúc nào cũng minh bạch và thẳng thắn như nó được nói ở đây. Dù sao đi nữa trong nghiên cứu, chúng ta cố gắng tìm ra các câu trả lời cho các câu hỏi làm chúng ta hứng thú.

Sự giới thiệu của việc liên kết từ “hành động” với thuật ngữ”nghiên cứu” để tạo thành thuật ngữ mới “nghiên cứu từ thực tiễn” là một phát triển đáng kể. “Hành động” trong ngữ cảnh này mang ý nghĩa có mục đích, nghĩa là, việc nghiên cứu được liên hệ trực tiếp với hành động để tạo ra sự cải thiện. Việc nghiên cứu được tiếp diễn trong quá trình hành động và sẽ có những điểm giống với phản-hồi-trong-hành-động (Schon, 1995) và đánh giá thường xuyên, Nghiên cứu từ thực tiễn, tuy nhiên, lại khác với phản hồi ít nhất là ở điểm nghiên cứu từ thực tiễn đòi hỏi khắt khe hơn (ví dụ việc thu thập dữ liệu qua các quãng thời gian phải được thực hiện có hệ thống). Trong nghiên cứu từ thực tiễn, sự tập trung nằm ở nghiên cứu, ví dụ tìm ra một điều gì đó mới mẻ, ko phải tập trun ở giá tri của một điều gì tức là tập trung vào giá trị. Tuy nhiên, bản thân nghiên cứu từ thực tiễn cần phải có giá trị và phản hồi thường là một phần quan trọng trong nghiên cứu từ thực tiễn.

Tại sao làm nghiên cứu từ thực tiễn?

Như đã nói ở trên, phần thuật ngữ phụ “hành động” mang ý nghĩa chỉ mục đích. Mục đích này là nâng cao/cải thiện/giải quyết và trên cách hiểu này chúng ta có một phiếu đồng ý từ văn học. Grundy (1995, 9) chỉ ra rằng nghiên cứu từ thực tiễn có thể dẫn tới việc nâng cao/cải thiện/giải quyết:

  1. trong thực hành (ví dụ tạo thuận tiện cho việc học của trẻ)
  2. trong tình huống (ví dụ sắp xếp lại phòng học), và
  3. trong việc thấu hiểu cả 2 vấn đề trên ( 1 và 2)

Vị trí chắc chắn của việc cải thiện/nâng cao/giải quyết này cũng tương đồng với mức lý tưởng về công tác giảng dạy như là một công việc phục vụ, một việc được làm để tạo ra điều tốt cho những người khác.

Nghiên cứu từ thực tiễn (in situ????) chịu ảnh hưởng từ cách nhận thức/am hiểu của giáo viên và đồng thời từ thực tế xảy ra tại nơi nghiên cứu. Điều này có nghĩa là các câu hỏi và những kết quả tìm được ko phải do áp đặt mà đến từ việc nghiên cứu của các giáo viên người Bhutan. Thực hiện nghiên cứu từ thực tiễn cũng có nghĩa là các kết quả đi thẳng từ thực tế của Bhutan. Khi báo cáo nghiên cứu thực tế được viết, chúng thường được thấu hiểu bởi những người Bhutan khác vì nghiên cứu này được đặt vào các thực tiễn cụ thể của Bhutan, ko phải từ những nước khác.

Trong khi viết một nghiên cứu từ thực tiễn, mục đích ko phải chỉ là khái quát hoá mà còn là tạo ra một bài viết đủ thiết thực cho những người đọc có thể hiểu được. Như Stake (1976, 7) đã chỉ ra “người đọc nhận ra được những điểm tương đồng cần thiết với những trường hợp họ hứng thú, họ lập ra những điểm căn bản để có thể thực hiện khái quát hoá tự nhiên. Stake muốn nói ở đây là chính người đọc, ko phải người viết, là người sẽ khái quát hoá (từ trường hợp trong bài tới tình huống của chính họ).

Chúng ta có thể tóm tắt: vì nghiên cứu từ thực tiễn đều nhằm mục đích nâng cao/cải thiện/giải quyết, nó là một quá trình quan trọng để giúp đỡ phát triển chuyên môn cho giáo viên (Grundy 1995). Đay ko phải là cách duy nhất để thực hiện điều đó (xem ví dụ, Frid, Redden & Reading 1998) nhưng nó là phương pháp tập trung vào một tình huống cụ thể. Hơn thế nữa, toàn bộ giáo viên trường đều có thể tham gia. Thêm vào đó, Kemmis và McTaggart (1998) tranh luận rằng nghiên cứu từ thực tiễn sẽ đạt mức độ tốt nhất khi hành động nghiên cứu mang tính chất tự do khi tất cả những người tham gia đều bị ảnh hưởng.

Những ai tham gia vào nghiên cứu từ thực tiễn?

Những người làm nghiên cứu từ thực tiễn là những nhân vật chính nhưng thường thì những người khác có tham gia với vai trò người hợp tác. Những người đặt ra câu hỏi và có gắng tạo ra sự nâng cao/cải thiện/giải quyết vấn đề có thể là các cá nhân, những nhóm nhỏ (ví dụ, các giáo viên tiếng Anh của khối lớp 4) hoặc thậm chí là các nhóm lớn (ví dụ toàn bộ giáo viên tại một trường). Những nhà nghiên cứu từ thực tiễn cần hiểu rằng họ có một vai trò hai mặt – một giáo viên và một nhà nghiên cứu.

Đôi khi những nhà nghiên cứu từ thực tiễn phải làm việc một mình nhưng trong khi làm việc đơn độc như vậy họ có thể nhiễm phải “tật cận thị” nghĩa là, tầm nhìn hạn hẹp thu được bởi làm việc quá ần với những hành động thực tiễn. Trờ nên “quá gần” thường có nghĩa là, ví dụ, những dữ liệu quan trọng bị bỏ quên hoặc việc phân tích đánh giá quá hạn hẹp thậm chí nhầm lẫn/ngộ nhận trên một vài phương diện nào đó. Để chống lại hiện tượng này (và một số lý do khác nữa) các nhà nghiên cứu thực tiễn thường có “những người bạn bình luận phê phán”

Thuật ngữ “người bạn bình luận phê phán” được chọn rất tốt tại đây. Một người bạn bình luận phê phán là một người có thể hỏi những câu hỏi khó và/hay quái gở nhưng làm vậy với một phương pháp gìn giữ một mối quan hệ làm việc gần gũi. Những người bạn bình luận phê phán sẽ yêu cầu các nhà nghiên cứu từ thực tiễn kiểm tra lại những giả sử sau này …, để tự hỏi những điều gì là phải mặc nhiên chấp nhận và cũng là tự hỏi các ý nghĩa của các phép ẩn dụ đã dùng, ví dụ như vậy.

Đôi khi một nhà nghiên cứu từ thực tiễn phải làm việc một mình. Một vài nhà nghiên cứu hàng đầu trong khu vực nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn (ví dụ Kemmis & McTaggart 1989, Grundy 1995) cho rằng đây ko thể là cách làm việc chuẩn được. Họ tranh luận rằng vì nghiên cứu từ thực tiễn là một thực hành mang tính xã hội, nó đòi hỏi đa tầm nhìn/cách nhìn được đưa ra để có thể chuyển tải các ý nghĩa của bài viết đang phát triền, và thông qua quá trình tiếp xúc để đạt được.

Khi nào thì làm nghiên cứu từ thực tiễn?

Điều quan trọng về thời gian là nghiên cứu từ thực tiễn thường xảy ra trong các giờ học bình thường. Như đã nêu trên, việc nghiên cứu xảy ra khi nhà nghiên cứu từ thực tiễn thử nghiệm một quá trình nhàm nâng cao/cải thiện/giải quyết vấn đề. Nghiên cứu từ thực tiễn đòi hỏi một câu hỏi được đưa ra trước và một quá trình thu thập dữ liệu một cách có hệ thống theo thời gian, việc phân tích dữ liệu này hy vọng rằng se đưa tới một phán xét có lý trí về ý nghĩa của các dữ liệu đó. Hy vọng rằng, việc phân tích này sẽ dẫn tới những câu trả lời, nhưng nếu nó ko dẫn tới các câu trả lời này thì nó ko nhất thiết phải là một vấn đề vì công việc phân tích thường chỉ đưa ra một vài cách phát triển, có khi là để dẫn tới một vòng tròn khác của nghiên cứu từ thực tiễn.

Quá trình nghiên cứu từ thực tiễn có thể thay đổi theo thời gian dựa trên rất nhiều các yếu tố đa dạng. Ví dụ như, một câu hỏi phức tạp có lẽ sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Việc thêm vào một số người trong nhóm nghiên cứu từ thực tiễn tất nhiên sẽ tạo nên những sự phức tạp và như vậy là cần thêm thời gian. Tình huống có thể thay đổi từ các tiếp xúc tương đối đơn giản tới rất phức tạp giữa các cá nhân trong cùng một tình huống. Nghiên cứu từ thực tiễn có thể kéo dài khoảng 1 giờ nhưng cũng có thể kéo dài hàng năm thậm chí dài hơn. Các sinh viên của tôi và những người khác tìm ra rằng một vòng tròn nghiên cứu thực tiễn có thể kéo dài từ 4 tới 8 tuần trong một tình huống của lớp học.

Nghiên cứu từ thực tiễn xảy ra ở đâu?

Nghiên cứu từ thực tiễn thường gợi ý một việc sắp đặt cụ thể hoặc một tình huống, có nghĩa là, việc nghiên cứu thường được tiến hành trong khoảng không của người thật việc thật, địa điểm thật, thời gian thật và các giới hạn về các nguồn. Đây là một mặt rất quan trọng của nghiên cứu từ thực tiễn, nghiên cứu từ thực tiễn phải chú ý và giải quyết với các vấn đề thực tế kể trên vì nghiên cứu từ thực tiễn tiến hành nhằm đưa ra những cải thiện đáng kể trong khi những người khác vẫn yêu cầu việc thực hành thường lệ vẫn phải được tiến hành bình thường. Ví dụ như, những sinh viên Đại học chuyên ngành Giáo dục của tôi thường tập trung vào việc quản lý các hành vi như là một nguồn cho các câu hỏi nghiên cứu thực tiễn nhưng họ hiểu rằng nghiên cứu từ thực tiễn được tiến hành trong khi họ vẫn đang giảng dạy các môn học cụ thể như tiếng Anh, Toán và vân vân…

Những nghiên cứu từ thực tiễn ko được tiến hành bởi một người nào đó đến từ một nơi nào khác về một người nào khác. Những nhà nghiên cứu từ thực tiễn thường luôn tự chủ được bởi vì họ (xoá từ “is”- dịch nguyên văn, ko hiểu tại sao thầy viết vậy ở đây???) phiên dịch tình huống, đặt ra câu hỏi, tạo ra hành động và thu thập cũng như phân tích dữ liệu trong một tình huống cụ thể mà trong đó họ tìm thấy tình huống của chính mình.

Đương nhiên, tình huống sẽ thay đổi tuỳ theo vùng hứng thú nghiên cứu của người đặt ra câu hỏi. Một giáo viên có thể hy vọng đặt ra các câu hỏi nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh trong lớp của cô ấy (hoặc là bằng việc nâng cao công tác giảng dạy của cô và tình huống học tập hoặc là cả hai). Một giáo viên trưởng bộ môn/chủ nhiệm thì thường sẽ quan tâm tới các vấn đề cấp trường ví như sự cải thiện về kết quả của môn toán học toàn khối 12. Một nhân viên trợ lý giảng dạy vùng Dzongkhag có thể hứng thú với sự phát triển của việc thực hành giảng dạy đa cấp tại vùng Dzongkhag và cứ như vậy. Trong bất kỳ tình huống nào, quá trình tiến hành nghiên cứu từ thực tiễn vẫn duy trì mối liên lạc với tình huống thực tế và người khởi xướng nghiên cứu từ thực tiễn này có đôi khi (có lẽ là có xu hướng thích thú hơn) sẽ lôi kéo những người có tham gia trong tình huống đó vào quá trính nghiên cứu từ thực tiễn.

Tiến hành nghiên cứu từ thực tiễn như thế nào?

Có rất nhiều mô hình về quá trình nghiên cứu từ thực tiễn (ví dụ Johnson 2002, 39-41; Elliott 1991, 70-1). Ở đây tôi sử dụng ” mô  hình” như là một hướng dẫn cho hành động. Trong công việc của tôi, tôi tìm ra rằng sẽ có ích nếu chia quá trình này thành 2 phần có liên quan, tức là, sự khảo sát cho nghiên cứu từ thực tiễn và vòng tròn nghiên cứu từ thực tiễn. Tôi đi theo mô hình của Kemmis và McTaggart (1988) nhưng với mức độ tỉ mỉ. Công đoạn khảo sát thường là chuẩn đoán, mục tiêu là đi sâu hơn vào tình huống nghiên cứu để cuối cùng có được những câu hỏi có ý nghĩa hơn là những câu hỏi nông cạn. Câu hỏi của nghiên cứu từ thực tiễn kết nối quá trình khảo sát với vòng quay nghiên cứu thực tiễn của lập kế hoach, hành động, theo dõi và phản hồi (Kemmis & McTaggart 1988). Hãy để chúng tôi giải thích từng công đoạn này:

  1. Công đoạn khảo sát nghiên cứu từ thực tiễn. Thuật ngữ khảo sát này được đưa ra từ một từ gốc Pháp (ReconnAitre – Nhìn vào) và có mối liên hệ tới các cuộc chiến tranh (để khảo sát một vùng nhằm tìm ra các điểm chiến lược). Tôi suy nghĩ quá trình khảo sát bao gồm 3 phần (Maxwell 2001) gọi là phân tích tình huống, phân tích kỹ năng của những người có liên quan, và “văn học” – ở đây có nghĩa là các lý thuyết đã có trước (lời thêm của pdich) (xem Biểu đồ 1). Cùng với nhau, 3 phần này hợp lại thành một cái nhìn khái quát trong đó bao gồm những thực tế của tình huống trên các ặt về nguồn lực và thực hành (phân tích tình huống), hồ sơ các kỹ năng của các nhân vật chính (phân tích kỹ năng) và sự liên hệ tới những công trình nghiên cứu trước đây trong mặt này hoặc các mặt có liên quan (“văn học”). Tổi sử dụng dấu ngoặc với từ văn học để biểu thị rằng kiến thức có thể tìm thấy từ sách vở nhưng cũng có thể từ các kinh nghiệm của, cụ thể như, lời khuyên của các nhà thực hành. Nói cách khác, kiến thức khoa học ko phải là vượt trội hơn so với kiến thức thực hành chuyên môn (cf. quan niệm kiến thức xã hội mới, ví dụ Gibbons, Limoges, Nowotny, Schwartzman, Scott & Trow, 1994). Thu thập thêm dữ liệu để hiểu rõ hơn tình hình dã là điều hết sức quen thuộc trong phân tích tình huống Những dữ liệu ban đầu này (ví dụ một vài kiểm tra về khả năng đọc hiểu của khối 3) có thể được sử dụng để so sánh với các kết quả đạt được vào cuối kỳ nghiên cứu từ thực tiễn về vấn đề đọc hiểu (chú ý kết cấu thay đổi, từ ngữ vẫn như vậy – dịch nguyên văn)

Điều quan trọng cần chú ý ở đây là 3 phần nêu trên có mối liên quan chặt chẽ và thường được hoàn thành cùng một lúc (cùng thời). Mũi tên 2 đầu thể hiện mối quan hệ tương quan chặt chẽ này. Việc khoanh vùng quá trình khảo sát là để gợi ý tính chất cùng thời và tính cụ thể của một tình huống.

Biểu đồ 1: Quá trình khảo sát và câu hỏi nghiên cứu từ thực tế

Câu hỏi nghiên cứu từ thực tế (Thầy ko để hình của biểu đồ mà cách quãng)

Mục đích của quá trình khảo sát là để đưa ra một câu hỏi nghiên cứu có thể dẫn tới việc cải thiện/nâng cao/ giải quyết một vấn đề. Đôi khi sử dụng mẫu câu “Nếu …. thì …” cũng có hiệu quả. Ví dụ như ” nếu như tôi đọc các quyển sách lớn mà trong đó chỉ ra mối liên quan giữa các hình ảnh và các chữ thì liệu khả năng đọc hiểu của học sinh của tôi trong môn tiếng Anh có được cải thiện ko?”. Có một mũi tên 2 chiều tới câu hỏi từ quá trình khảo sát trong Biểu đồ 1 bởi vì đôi khi câu hỏi quá rộng (ví dụ “làm thế nào để tôi cải thiện khả năng tiếng Anh cho lớp tôi?”) và điều này dẫn tới việc phải trở lại quá trình khảo sát để làm rõ hơn câu hỏi này. Trên thực tế, tiêu chí để chọn lựa câu hỏi nghiên cứu từ thực tiễn có thể như sau:

  1. Nó có cụ thể ko? (Tôi có thể thu thập dữ liệu về vấn đề này được ko?)
  2. Nó có tính chiến lược ko? (liệu nó có đem lại một sự khác biệt đối với công tác thực hành/giảng dạy hoặc sự khác biệt về tình huống hoặc cả hai ko?) và
  3. Nó có tính khả thi ko? (liệu tôi có thể thay đổi được vấn đề này trong khoảng thời gian này ko?)

Kinh nghiệm đối với sinh viên của tôi cho thấy việc định ra được câu hỏi nghiên cứu thực tế là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên, câu hỏi nghiên cứu thực tế này được đưa ra từ quá trình khảo sát. Bằng cách này, việc nghiên cứu sẽ thể hiện được thực tế tại lớp học.

Kemmis và McTaggart đã giới thiệu thuật ngữ “mối quan tâm có chủ đề” để đi kèm với việc đặt ra câu hỏi nghiên cứu thực tiễn. Công cụ này có thể hữu ích vì nó chỉ ra cho những nhà nghiên cứu hoặc các giáo viên có nhiều kinh nghiệm hơn thấy được sự tập trung của bức tranh nghiên cứu toàn cảnh đưa ra. Một vài sinh viên Đại học chuyên ngành Giáo Dục của tôi thường ko nắm bắt được họ muốn nghiên cứu cái gì trong vòng một loạt những chọn lựa (mối quan tâm đa chủ đề). Tôi yêu cầu họ phải làm việc chăm chỉ trong quá trình khảo sát để tìm ra một ý tưởng có thể dẫn tới sự cải thiện trong khoảng thời gian ngắn ngủi họ có. Việc lựa chọn một câu hỏi nghiên cứu thực tiễn cẩn thận sẽ giúp liên kết quá trình khảo sát tới vòng quay nghiên cứu thực tiễn.

  1. Vòng quay nghiên cứu thực tiễn. Câu hỏi nghiên cứu thực tiễn sẽ lèo lái vòng quay của nghiên cứu từ thực tiễn. Vòng quay này bao gồm bốn “khoảng ngắn” (Grundy 1995; Kemmis & McTaggart 1988). Đầu tiên, chúng ta sẽ điều tra mỗi “khoảng ngắn” đã được phân chia rõ ràng trong biểu đồ 2. (như đã nêu trước, có rất nhiều cách khác để thành lập nên một vòng quay nghiên cứu thực tiễn nhưng mô hình của Kemmis và McTaggart thường được sử dụng hơn, và được giải thích trình bày rõ ràng hơn)
  2. “Lập kế hoạch” biểu thị việc tìm ra các cách khác nhau để có thể, độc lập hoặc tập thể, đưa ra kết quả nâng cao/cải thiện/giải quyết bằng việc lạp ra các hành động cụ thể. Việc lập kế hoạch thu thập dữ liệu cũng rất quan trọng trong khi ta lập kế hoạch hành động. (Bạn ko thể hành động ngay lập tức bởi vì bạn sẽ ko có bất cứ một dữ liệu nào để ám thị sự thành công hay thất bại của công việc này trừ phi bạn lập kế hoạch để thu thập thông tin trước). Trong việc nghiên cứu, việc thu thập dữ liệu có hệ thống được ưa dùng hơn, lập kế hoạch giúp đảm bảo việc thu thập có hệ thống này (và cả việc phân tích). Các “khoảng ngắn” của hành động và theo dõi thường xuyên đi chung với nhau. Chúng ta theo dõi (thu thập dữ liệu) trong khi ta thực hiện các kế hoạch đã lập để cải thiện/nâng cao/giải quyết (hành động)

Hành động (mà chúng ta có hứng thú) luôn luôn thực hiện cùng với những hành động khác, đó là, nghiên cứu từ thực tiễn được gắn liền với thực tế đầy những phức tạp của tình huống nghiên cứu và các thực hành khác. Điều này làm cho quá trình nghiên cứu từ thực tiễn mạnh hơn nhưng chắc chắn cũng đồng thời thêm vào những khó khăn. Đối với mục tiêu nghiên cứu từ thực tiễn, dữ liệu được tách và phân tích trong hoàn cảnh những thực tế hiện tại. Ý nghĩa của dữ liệu sẽ được tìm kiếm trong lúc thu thập dữ liệu.